Showing posts with label jitter. Show all posts
Showing posts with label jitter. Show all posts

Monday, June 2, 2014

Khái niệm về băng thông và các độ trễ gói tin

1.       Băng thông



Băng thông là số lượng bit trong một giây có thể gởi trên đường truyền. Băng thông thường bằng với tốc độ của đường truyền vật lý hay xung clock của thiết bị kết nối đó. Trong vài trường hợp nó nhỏ hơn tốc độ thực sự của đường liên kết.
            Ví dụ trên là một mạng trống gồm client và server đầu cuối. Giữa các con router sử dụng các băng thông khác nhau. Băng thông cao nhất cả đoạn đường từ server đến client là bằng đường dẫn có băng thông thấp nhất  (trong ví dụ này là 256kbps).
            Đó là cách tính băng thông của một đoạn đường, tuy nhiên, còn nhiều vấn đề phức tạp trong nhiều trường hợp mà có nhiều dòng lưu lượng dữ liệu đang được vận chuyển trong mạng.

2.       End-to-end delay


  • End-to-end delay bằng tổng tất cả propagation, processingqueuing delay có trên đường dẫn.
  • Propagation (serialization): Sự chậm trễ truyền tải dữ liệu trên phương tiện truyền dẫn, hầu hết xảy ra ở các phần, chỉ phụ thuộc vào băng thông.
  • Processing, queuing delay: Xảy ra trong Router.

Ping ( ICMP ) có thể sử dụng để đánh giá thời gian đi của gói tin IP trong mạng. Một vài công cụ khác cũng có thể đánh giá thời gian đáp ứng của mạng.


3.     Processing, Queuing và Propagation delay



Processing Delay là thời gian để một router đặt một gói tin vào cổng vào và đẩy gói tin đó ra hàng đợi của cổng ra router. Thời gian xử lý phụ thuộc vào nhiều vấn đề như:
  •          Tốc độ xử lý CPU.
  •         Tài nguyên CPU
  •          Chế độ chuyển đổi IP.
  •          Cấu trúc router.

-         Cấu hình các tính năng ở cả hai cổng vào và ra của router.

Queuing Delay là thời gian gói tin nằm trong hàng đợi cổng ra của một router. Nó phụ thuộc vào số lượng và kích thước của các gói tin đã có trong hàng đợi, và băng thông của cổng. Nó cũng  phụ thuộc vào cơ chế hàng đợi.
Propagation Delay ( Serialization Delay) là thời gian để vận chuyển gói tin. Nó thường chỉ phụ thuộc vào băng thông của cổng. Công nghệ CSMA/CD có thể làm chậm trễ thêm một chút vì khả năng xung đột các gói tin khi một cổng sắp bị nghẽn.

4.       Mất gói tin ( Packet loss)


          Mất gói tin thông thường xảy ra khi các router hết bộ nhớ đệm ở hàng đợi cổng ra. Hình trên cho thấy ở hàng đợi cổng ra đã đầy, dẫn tới việc gói tin mới tới sẽ bị đánh rớt. Được tạm gọi đơn giản là “ đánh rớt gói tin cổng ra (output drop)” hoặc “đánh rớt gói tin ở đuôi (tail-drop)” ( tức là gói tin bị đánh rớt ở đuôi của hàng đợi).
Router cũng đánh rớt các gói tin với nhiều lý do khác, ví dụ như:
  •          Hàng đợi vào – CPU bị tắc nghẽn và không thể xử lý các gói tin ( hàng đợi cổng vào đầy).
  •          Từ chối – bộ nhớ đệm của router đầy.
  •          Tràn – CPU bị tắc nghẽn và không thể chỉ định bộ nhớ đệm cho gói tin mới.
  •         Lỗi khung – lỗi phần cứng trong khung.



       Một vài phương án để giải quyết các vấn đề trên về băng thông:
-                      Cách tốt nhất để cải thiện khả năng truyền dẫn cho tất cả các ứng dụng và người dùng là làm tăng diện tích băng thông. Giải pháp này nghe có vẻ đơn giản nhưng thực tế thì nó mang về cái giá tiền rất cao và thời gian thực hiện nó.

-                       Một sự lựa chọn khác đó chính là phân loại lưu lượng truy cập vào QoS và độ ưu tiên của nó theo tầm quan trọng của dữ liệu. Có nhiều cơ chế có sẵn trong Cisco IOS cung cấp đảm bảo băng thông, ví dụ:

o   Priority Queuing.
o   Custom Queuing.
o   Modified Deficit Round Robin.
o   IP RTP prioritzation.
o   Class-based Weighted Fair Queuing.
o   Class-based Low-latency Queuing.

-                       Tối ưu hoá việc sử dụng đường dẫn bằng cách nén gói tin để làm tăng băng thông đường dẫn. Mặt khác, nén cũng làm tăng độ trễ do tính phức tạp trong giải thuật nén. Sử dụng phần cứng để nén có thể làm tăng tốc độ nén một gói tin. Stacker và Predictor là 2 giải thuật nén có sẵn trong Cisco IOS.

-         Một phương pháp hiệu quả khác đó là nén tiêu đề. Cơ chế này đặc biệt hiệu quả trong mạng, nơi vận chuyển nhiều gói tin với lượng dữ liệu nhỏ. Ví dụ như nén tiêu đề TCP và RTP.
Dưới đây là bảng yêu cầu cho các ứng dụng của doanh nghiệp:


Khi QoS được xem xét, các ứng dụng quan trọng và yêu cầu về QoS phải được xác định. Hình trên minh hoạ về các loại ứng dụng khác nhau với yêu cầu QoS tương ứng. (throughput, bandwidth, delay, jitter and loss).
Phương pháp để cung cấp QoS tới các ứng dụng thường được sử dụng trong các mạng doanh nghiệp nơi có nhiều ứng dụng quan trọng (Bussiness-critical).
Hầu hết các ứng dụng có thể được phân loại dựa trên số cổng trên TCP hoặc UDP. Một vài ứng dụng sử dụng cổng động (dynamic port), nó làm khó khăn trong việc phân loại. Cisco IOS hỗ trợ Network-based Application Recognition ( NBAR), có thể phân loại cho các ứng dụng như vậy.

Bảng minh hoạ từng cấp độ trong QoS
Nhà cung cấp dịch vụ, hay nói cách khác, là cung cấp kết nối tới người dùng. Họ thường không quan tâm tới các ứng dụng mà người dùng đang sử dụng. Tuy nhiên, họ cung cấp các cấp độ khác nhau của dịch vụ cho người dùng. Một số người dùng sẵn sàng trả nhiều hơn cho kết nối của họ tới Internet, và nhận được một số đảm bảo. Bảng trên minh hoạ từng cấp độ mà nhà cung cấp dịch vụ có thể đáp ứng tới người dùng của họ.
Trong lịch sử Internet, có thể chia QoS thành 3 mô hình:
  •          Best-effort: Internet được thiết kế cho best-effort, không đảm bảo việc vận chuyển gói tin. Ngày nay, mô hình best-effort vẫn chiếm ưu thế trong Internet.
  •          Mô hình tích hợp dịch vụ ( Integrated Services model): Được ra đời nhằm bổ sung vào best-effort bằng cách cài đặt băng thông cho ứng dụng, những ứng dụng được yêu cầu về băng thông và đảm bảo độ trễ. Mô hình tích hợp dịch vụ này cho ứng dụng báo hiệu yêu cầu khi vào mạng. Phương thức dành tài nguyên ( Resource Reservation Protocol – RSVP) được sử dụng để báo hiệu yêu cầu QoS tới mạng.
  •          Mô hình phân biệt dịch vụ ( Defferentiated Services model): Được thêm vào để cung cấp khả năng mở rộng hơn trong việc cung cấp QoS tới các gói tin IP. Sự khác biệt chính là mạng nhận ra các gói tin ( không yêu cầu về tín hiệu) và cung cấp dịch vụ thích hợp tới chúng.


Ngày này, mạng IP có thể sử dụng 3 mô hình trên trong cùng một thời điểm.
1:13 AM1 comment

Saturday, May 31, 2014

Tổng quan về QoS

1. Giới thiệu

Một thập kỷ trước khi mà Internet vẫn còn ở giai đoạn đầu, hầu hết các người đã sử dụng Gopher để tìm kiếm thông tin và FTP để khôi phục nó. Internet là một điều gì đó mới mẻ và thú vị và không một ai thực sự chán bởi thực tế thì nó rất chậm.
Trước đây, khi mà internet chủ yếu là truyền data thì người ta không cần quan tâm đến việc phân biệt và ưu tiên cho các gói tin bởi vì lúc này băng thông mạng và các tài nguyên khác đủ để cung cấp cho các ứng dụng trong mạng, vì vậy các ISPs sẽ cung cấp cho khách hàng của họ dịch vụ best-effort (BE) khi đó tất cả các khách hàng sẽ được đối xử như nhau họ chỉ khác nhau ở loại kết nối. Đây là dịch vụ phố biến trên mạng Internet hay mạng IP nói chung. Các gói thông tin được truyền đi theo nguyên tắc “đến trước được phục vụ trước” mà không quan tâm đến đặc tính lưu lượng của dịch vụ là gì. Điều này dẫn đến rất khó hỗ trợ các dịch vụ đòi hỏi độ trễ thấp như các dịch vụ thời gian thực hay video. Cho đến thời điểm này, đa phần các dịch vụ được cung cấp bởi mạng Internet vẫn sử dụng nguyên tắc Best Effort này.
Ngày nay, Internet đang phục vụ một lượng lớn các tầng lớp xã hội. Internet cũng đã phát triển trong việc cung cấp dịch vụ. Người dùng sử dụng Internet để xem các thông tin, truyền tiếng nói và hình ảnh, shop hay chơi game …
Nhưng khi Internet càng ngày càng phát triển và phát triển thêm các dịch vụ HTTP, Voice, Video… thì điều này sẽ làm cho chất lượng của các dịch vụ này giảm đi rõ rệt vì delay lớn, độ jitter lớn và không đủ băng thông để truyền, phương án tăng băng thông của mạng cũng không giải quyết được vấn đề này mà lại còn rất tốn kém.
Cùng với nhiều ứng dụng trên Internet đến với nhu cầu dịch vụ mà nó cung cấp
  •          Một vài ứng dụng chạy chậm.
  •          Một số video hay các cuộc hội thảo có chất lượng hình ảnh xấu.
  •          Các phiên Voice có chất lượng giọng xấu hoặc không có tiếng.
  •          Truyền tải các dữ liệu quan trọng mất nhiều thời gian.
2.  Nguyên nhân
  •          Thiếu băng thông? Có nhiều luồng dữ liệu cạnh tranh làm giới hạn lượng băng thông.
  •          Quá nhiều trì hoãn (Delay)? Nhiều gói tin phải trải qua nhiều thiết bị mạng và đường dẫn.
  •          Trì hoãn thay đổi? Đôi khi có rất nhiều dòng lưu lượng dữ liệu khác, kết quả sẽ làm chậm trễ hơn.
  •          Rớt? Nhiều gói tin bị đánh rớt khi đường dẫn bị nghẽn.
Nếu mạng trống thì ứng dụng sẽ có đủ băng thông, có thể chữa sự chậm trễ hay không phải bị đánh rớt gói tin. Thực tế thì có rất nhiều người dùng hoặc nhiều ứng dụng sử dụng mạng tại một thời điểm.
3.   Khái niệm
QoS (Quanlity of Service) là một khái niệm dùng để đề cập đến tất cả các khía cạnh liên quan đến hiệu quả hoạt động của mạng. QoS bao gồm hai thành phần chính: 
+  Tìm đường qua mạng nhằm cung cấp cho dịch vụ được yêu cầu.
+  Duy trì hiệu lực hoạt động của dịch vụ.
Hai mô hình cung cấp chất lượng dịch vụ được sử dụng phổ biến ngày nay là: 
+  Mô hình dịch vụ tích hợp IntServ (Intergrated Services).
+  Mô hình dịch vụ phân biệt DiffServ (Differentiated Services).
Các kĩ thuật QoS trong mạng IP.
                    
Hình 1: Các kĩ thuật QoS trong mạng IP
Nguyên nhân thành công của giao thức IP chính là sự đơn giản của nó. Mọi tính năng phức tạp được cài đặt tại đầu cuối mạng còn mạng lõi thì đơn giản. Bộ định tuyến trong mạng sẽ căn cứ vào địa chỉ IP và các nút trong mạng để tìm nút mạng kế tiếp được nhận gói.
     - Nếu hàng đợi dành cho nút mạng kế tiếp quá dài, thời gian trễ của gói dữ liệu sẽ lớn. Nếu hàng đợi đầy không còn chỗ trống gói dữ liệu sẽ bị hủy.

- Sự ra đời các giao thức chất lượng dịch vụ QoS cung cấp cho mạng các tính năng giúp mạng có thể phân biệt được các lưu lượng có đòi hỏi thời gian thực với các lưu lượng có độ trễ, mất mát hay độ biến động trễ (jitter). Băng thông sẽ được quản lý và sử dụng hiệu quả để có thể đáp ứng những yêu cầu về chất lượng của các luồng lưu lượng. Mục tiêu của QoS là cung cấp một số mức dự báo và điều khiển lưu lượng.
 - Trong các mạng số liệu, QoS được đánh giá qua các tham số chính sau:
• Độ sẵn sàng của dịch vụ
• Độ trễ (delay).
• Độ biến động trễ (jitter)
• Thông lượng hay băng thông
- Tỷ lệ tổn thất gói (packet loss rate): tỷ lệ các gói bị mất, bị hủy, và bị lỗi khi đi trong mạng.
Hiện nay, có hai loại chất lượng dịch vụ cơ bản:
- Dành trước tài nguyên (Resource Reservation) với mô hình “Tích hợp dịch vụ” IntServ (Intergrated Service). Tùy theo yêu cầu của dịch vụ và chính sách quản lý băng thông mà mạng sẽ cung cấp tài nguyên phục vụ cho từng ứng dụng.
- Sự ưu tiên (Prioritization) với mô hình các “dịch vụ phân biệt” (DiffServ-Differentiated Service). Lưu lượng vào mạng được phân loại và được cung cấp theo chỉ tiêu của chính sách quản lý băng thông. Chất lượng dịch vụ được áp dụng cho từng luồng dữ liệu riêng biệt hoặc một nhóm luồng. Luồng được xác định dựa vào 5 thông tin:
  •         giao thức lớp vận chuyển.
  •         địa chỉ IP nguồn.
  •         địa chỉ IP đích.
  •         chỉ số cổng nguồn.
  •        chỉ số cổng đích.

9:53 AMNo comments